publicite publicite
Tìm kiếm

/ languages

Choisir langue
 
Annonce Goooogle
Annonce Goooogle

VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

Nguyễn Bính, đời và thơ bạc mệnh

 Thụy Khuê

Bài đăng ngày 20/12/2008 Cập nhật lần cuối ngày 18/01/2009 14:32 TU

Những mối tình tha thiết nhất trong tâm hồn, Nguyễn Bính thường dành cho những người đàn bà không quen. Mối cảm thông của Nguyễn Bính với những người phụ nữ mệnh yểu, bị tình phụ, ngoài tâm sự của chính mình, còn là sự giao cảm của nhà thơ với định mệnh, với cái chết, tương tự như mối linh cảm giữa Kiều và Đạm Tiên.

Nguyễn Bính xuất hiện lần đầu trên văn đàn năm 1936 với bài Mưa xuân. Trong Mưa xuân, đã thấy xuất hiện hai yếu tố chính trong thơ Nguyễn Bính : thơ ngâmthơ thoại, nhờ hai yếu tố này mà thơ Nguyễn Bính sớm đi vào lòng người. Bài Mưa xuân, kể chuyện một cô gái quê đợi gánh hát chèo về làng hát trong dịp tết, để gặp người yêu.

Thời ấy, làm thơ về cảnh sống thôn quê là thường, hầu như nhà thơ nào cũng viết dăm ba “bức tranh quê”, nhiều bài trở thành bài học thuộc lòng cho học sinh tiểu học như thơ của Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Tế Hanh, Bàng Bá Lân... , những câu dễ đọc, dễ nhớ :

Chiều hôm đón mát cổng làng

Gió hiu hiu thổi mây vàng êm trôi (Bàng Bá Lân)

Thơ Nguyễn Bính cũng dễ đọc, dễ hiểu, nhưng không thể trở thành bài học thuộc lòng cho trẻ nhỏ, bởi nó còn có tình, nó đi ra ngoài quỹ đạo hồn nhiên của những bức tranh quê cùng thời. Dù với giọng vui, thơ Nguyễn Bính luôn luôn chở cái bi đát của số phận. Tính chất bi đát trong thơ Nguyễn Bính, gắn bó với hai chữ bạc mệnh, tiềm ẩn ngay trong những câu thơ tưởng như vô tư nhất, trong bài Mưa xuân:

Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già

Lòng trẻ còn như cây lụa trắng

Mẹ già chưa bán chợ làng xa  (Mưa xuân)

Đây là lời người con gái tự giới thiệu mình: nàng ví nàng như cây lụa trắng mà mẹ chưa đem bán. Nếu nói thơ Nguyễn Bính có chất ca dao, thì quyết không phải là ở những yếu tố ngoài da như thôn Đông, thôn Đoài; mà ở đây, gói trọn trong câu “mẹ già chưa bán chợ đàng xa” đã có chất ca dao (thân em như tấm lụa đào, nắng mưa giữa chợ biết vào tay ai) và nhờ chữ bán, nó còn có chất Nguyễn Du (rẽ ra cho thiếp bán mình chuộc cha) nữa.

Vậy ngay trong những câu thơ “khai bút”, ở tuổi 18, Nguyễn Bính đã nhìn thấy số phận bán mình của người phụ nữ, có thể coi như ảnh hưởng Kiều và ca dao giao thoa, trong tư tưởng. Người con gái quê trong bài thơ Mưa xuân ấy, rất mới, nàng đợi người tình trong đêm hát, lòng say đắm:

Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm

Em mải tìm anh chả thiết xem

Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh

Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em  (Mưa xuân)

Hai câu tuyệt bút: Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh / Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em chứng minh một ngòi bút thiên tài vừa chớm nở.

Nhưng gã trai lỗi hẹn:

Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay

Hoa xoan đã nát dưới chân giày

Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ

Mẹ bảo:“Mùa xuân đã cạn ngày” (Mưa xuân)

Người tình không đến, hội làng đã hết, mưa xuân đã ngại bay, và hoa xoan đã nát dưới chân giày, một câu thơ tuyệt vời nữa. Tất cả chấm dứt bằng lời mẹ “xuân đã cạn ngày” như một tàn lụi : xuân đã chết. Thơ xuân của Nguyễn Bính, ngay trong buổi đầu đời, đã gắn bó với bất hạnh, đớn đau, tuyệt vọng, tàn lụi. Sự bạc bẽo của người tình, ngay trong mùa xuân, trở thành vết thương trong thi ca Nguyễn Bính :  

 Nhưng rồi người khách tình, xuân ấy

Đi biệt không về với... bến sông

Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi

Mấy lần cô gái mỏi mòn trông (Cô lái đò)

Đó chính là cái khác biệt sâu xa giữa thơ “quê mùa” của Nguyễn Bính với những “bức tranh quê” cùng thời: tranh của các nhà thơ khác chỉ là những bức tả cảnh, vui tươi, nhộn nhịp cảnh chợ, cảnh làng, cho học trò học. Nguyễn Bính lấy cảnh quê làm nền, để nói lên cái bi kịch của con người khuất sau, luôn luôn là bi kịch của người phụ nữ bị bỏ rơi, bị phản bội, bi kịch của người bạc mệnh. Nếu chiếu vào thân phận Nguyễn Bính, thì người bạc mệnh ấy chính là Nguyễn Bính.

*

Ra đời được ba tháng thì mẹ mất, không được học trường, học ở nhà với cha và cậu. 13 tuổi làm thơ. 15 tuổi lang thang lên Hà Nội “lập thân”, làm nghề bán báo. 18 tuổi (1936) có thơ đăng báo. 19 tuổi (1937) được giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn. 20 tuổi (1938) trở thành một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất thời ấy... Nhưng chìm trong Nguyễn Bính, vẫn có một mặc cảm sâu xa về bản thân, không mẹ, không được học “đến nơi đên chốn”:

 Còn tôi sống sót là may

 Mẹ hiền mất sớm giời đầy làm thơ (Nhà tôi).

 Và cái mặc cảm ấy, người đời đã “dạy” cho Nguyễn Bính. Dạy bằng nhiều cách. Dạy  suốt cuộc đời.

Nữ sĩ Mộng Tuyết kể lại khi Nguyễn Bính đến tá túc nhà ông bà ở Hà Tiên (tuy bà viết là năm 1944, nhưng có lẽ đây là năm 41 hoặc 42) : “Người khách thâm thấp. Phong trần hiện trên mớ tóc đen rậm, rối bồng, dài tới mang tai. Bộ âu phục cũ nhầu nát làm cho người tăng thêm phần tiều tụy (...) Trong khi nghe anh Đông Hồ và tôi bàn chuyện Tam Quốc Chí, Bính không góp chuyện được, vì Bính chưa từng đọc Tam Quốc bao giờ. Bính thấy xấu hổ, cũng như đã xấu hổ vì chưa biết đi xe đạp. Càng xấu hổ, khi thấy tôi và Đông Hồ tỏ vẻ ngạc nhiên vì sao mà Nguyễn Bính lại có thể chưa đọc Tam Quốc Chí. Thế rồi, Bính về tìm trong Vạn Vạn Quyển Lầu, đọc ngấu nghiến, suốt mấy đêm liền, hết bộ truyện” (trích Để nhớ Nguyễn Bính những ngày ghé bến Hà Tiên, Văn số 60, ra ngày 15/6/66 tại Sài Gòn, trang 52 và 55).

Nữ sĩ Anh Thơ, ghi lại trong hồi ký, mối tình của bà với B, “người trong mộng, người lý tưởng, người tôi yêu bằng cả trái tim thơ tha thiết”, hai người đã “tha thiết yêu nhau” qua thư từ. Và bà kể lại về lần gặp mặt : “Tôi nhớ lại cảnh Kim Trọng “lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng” gặp Thuý Kiều. Chàng là một thi sĩ thủ đô, hẳn là hết sức trang nhã, biết mọi kiểu cách lịch sự để quý yêu tôi... Bỗng từ quán nước đầu cầu sông Thương, một anh chàng thân hình lùn ngắn, cái đầu hơi to, sù lên những tóc, tay vất vội chiếc điếu cày đang hút dở, xông lại trước mắt tôi, nhe hai hàm răng đen cáu nhựa thuốc, cười sát mặt tôi...” (Từ bến sông Thương, nxb Văn học 1986, trang 101). Rồi bà giải thích sự tan vỡ này bằng cử chỉ sàm sỡ của Nguyễn Bính “một cái hôn bất ngờ chộp lên má tôi”, khiến bà phải “thất thanh” gọi anh bà, bà là “con nhà nề nếp” thì “không thể nào yêu được B, nên B luôn luôn bị thất vọng, từ cô này tới cô khác, và phải tìm quên ở tiệm hút, lầu xanh” (sđd, trang 103).

Đấy là nhận xét của hai nữ sĩ. Đến nhà phê bình Hoài Thanh và nhà thơ Xuân Diệu, thì sự phê chuẩn có tính chất khác hẳn.

Bài Chân quê của Nguyễn Bính có câu : Hôm qua cô đi tỉnh về /Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều, để trách người con gái quê ra tỉnh học đòi theo mốt thị thành. Nhưng nhà phê bình Hoài Thanh lại vận hai câu thơ đó vào thân Nguyễn Bính để khen mà trách Nguyễn Bính nhà quê, nhưng hình như có hơi ngụ ý thiếu học nữa. Hoài Thanh thích thơ Xuân Diệu. Xuân Diệu là nhà thơ “có học”, lại tỉnh thành, có những câu thơ rất Tây, y như dịch từ tiếng Pháp : Yêu là chết ở trong lòng một ít, hay Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ, hoặc : Hãy sát đôi đầu ! Hãy kề đôi ngực ! Đặc biệt câu Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi được nhiều người ưa chuộng, Anh Thơ thuộc lòng. Nhưng chắc chắn là nhờ nhà phê bình Hoài Thanh hết lời ca ngợi như một hồn thơ “say đắm tình yêu” mà Xuân Diệu trở thành nhà thơ số một của tình yêu.

Thật ra, thơ tình của Xuân Diệu hời hợt, vì ông là người đồng tính, không thể yêu con gái. André Gide đã viết được những trang về tình trai, kín đáo, tế nhị, thơ mộng và đớn đau làm rung động trái tim bao nhiêu người đọc nam cũng như nữ trên trái đất. Nhưng xã hội Pháp không giống xã hội Việt Nam, Xuân Diệu dù có muốn cũng không thể viết về tình trai được. Ông chỉ có một thơ bài tên là “Tình trai” với câu “Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine” không có gì đặc biệt.  Thơ Xuân Diệu hay ở chỗ khác : tình trai của ông đã hoá thân trong mối Giao cảm mà Baudelaire gọi là Correspondance giữa cỏ cây, hoa lá, đất trời. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này khi viết về Xuân Diệu.

Dĩ nhiên Hoài Thanh có quyền sai lầm về Xuân Diệu và Nguyễn Bính, nhưng cái đáng trách là sau này, người ta cứ sao chép lại cái sai lầm của Hoài Thanh, trong hầu hết những bài nhận định và phê bình văn học. Về Xuân Diệu, điều đáng ngại nhất, là trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, ông đã thực sự trở thành bồi bút, viết bài mạ lỵ Lê Đạt, tố cáo Văn Cao và riêng đối với Nguyễn Bính rất tàn tệ.

Lại Nguyên Ân, trong bài nghiên cứu mới, tựa đề:“Xuân Diệu trong những năm 1954-58”, cho biết: “Tác phẩm mới (1969-1976) mà Xuân Diệu là một trong số vài ba nhân vật chủ chốt cầm lái, đã hầu như không nhắc gì đến Nguyễn Bính, đã làm như không hề có Nguyễn Bính trong nền thơ Việt thế kỷ XX (...) Phải nhờ có dư luận văn nghệ miền Nam nhắc nhở, tên tuổi Nguyễn Bính mới được sống lại với công chúng miền Bắc từ 1986”.

*

Người ta chỉ yêu thơ Nguyễn Bính, yêu sự nổi tiếng của thi nhân, nhưng khi gặp mặt, người ta vỡ mộng, người ta chê nhếch nhác quá, người ta chờ đợi một tao nhân mặc khách  Hà thành. Không ai lấy một nhà thơ lang bạt, chẳng có nghề ngỗng gì nuôi thân :

Không ai chôn cất hộ lòng tôi

Mối lái cho tôi lấy một người (Vườn hoang)

Tất cả phũ phàng của những “người yêu”, mà thư tình đầy ắp những hộp bích quy, như Tô Hoài thuật lại, dẫn đến điều lạ lùng và cũng dễ hiểu là những mối tình tha thiết nhất trong tâm hồn, Nguyễn Bính thường dành cho những người đàn bà không quen : Người hàng xóm, Cô lái đò, Cô hái mơ, Dòng dư lệ, Viếng hồn trinh nữ...  tất cả đều không quen, vậy mà “bao nhiêu đau khổ của trần gian trời đã dành riêng để tặng nàng” Nguyễn Bính đều biết cả.

Mối cảm thông của Nguyễn Bính với những người phụ nữ mệnh yểu, bị tình phụ, ngoài tâm sự của chính mình, còn là sự giao cảm của nhà thơ với định mệnh, với cái chết, tương tự như mối linh cảm giữa Kiều và Đạm Tiên. Sự cảm thông tình yêu qua cái chết, giải thích mối linh ứng diệu kỳ giữa những người không quen ấy:

Nàng đã qua đời để tối nay

Có chàng đi hứng gió heo may

Bên hồ để mặc mưa rơi ướt

Đếm mãi bâng quơ những dấu giày...

Người ấy hình như có biết nàng

Có lần toan tính chuyện sang ngang

Nhưng hồn nàng tựa con thuyền bé

Đã cắm nghìn thu ở suối vàng

Có gì vừa mất ở đâu đây ?

Lòng thấy mềm như rượu quá say

Hoảng hốt chàng tìm trong bóng tối :

Bàn tay lại nắm phải bàn tay

....

Tôi với nàng đây không biết nhau,

Mà tôi thương tiếc bởi vì đâu ?

Mỹ nhân tự cổ như danh tướng

Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu. (Viếng hồn trinh nữ)

Nhưng còn có một yếu tố khác, đã khiến thơ Nguyễn Bính rung động lòng người trong  nhiều thế hệ, đó là âm điệu. Bất cứ người Việt nào xa nước đã lâu mà không được trở về, tình cờ nghe thấy đâu đó một âm giai ngũ cung, trong lòng không khỏi gợn lên chút gì như tiếng sóng. Và những tiếng ru, tiếng ngâm, thường cũng gợi trong lòng họ những tiếng sóng ngầm. Thơ Nguyễn Bính, là một thứ âm thanh có thể gây ra trong lòng người Việt những tiếng sóng ngầm như thế :

Gió đưa xác lá về đường,

Thu sang nhuộm cả sầu thương một trời

Sầu thương quyện lấy hồn tôi

Đêm qua ngồi đọc thơ người xa xăm

Một nghìn năm, một vạn năm,

Con tằm vẫn kiếp con tằm vương tơ

Tặng người gọi một giòng thơ,

Hay là giòng nước mắt thừa đêm qua. (Dòng dư lệ)

Bởi âm nhạc trong thơ ông là một thứ âm nhạc quen thuộc, của lục bát, có giọng đều đều của tiếng ru ạ ời, lại có tiếng định mệnh của Kiều và tiếng than của người chinh phụ. Tiếng thơ Nguyễn Bính là hợp âm của nhiều thứ “tiếng” ấy, nó là một thứ âm giai ngũ cung trong lòng người Việt.

Bởi thế, khi Nguyễn Bính xướng lên tình yêu giữa những người không quen biết ấy, tưởng như cái gì không thực, nhưng nó lại có thể  làm tan nát lòng người. Bởi người ta không yêu Nguyễn Bính trong đời thực. Trong đời thực chỉ có sự giả dối và phản bội. Và Nguyễn Bính đã phải tạo ra đời mộng để yêu và được yêu. Những người không quen biết nhau ấy đã gặp nhau trong mộng. Họ là những giấc mơ bạc mệnh của nhau. Họ sống mơ nhưng yêu thật, yêu cái mệnh bạc, cái ngắn ngủi của giấc mơ, hiện thân sự cô đơn của chính mình. Phần hồn của kẻ cô đơn, tự chẻ đôi chẻ ba ra cho có bạn và mỗi nửa riêng lẻ, mỗi phần xẻ ra ấy, tự cảm thấy không còn cô đơn:

Những một mình em uống rượu hồng  (Xuân tha hương)  

Hoặc:

Chân bước hững hờ theo bóng lẻ

Một mình làm cả cuộc phân ly  (Những người trên sân ga)

Những câu thơ lạc ra ngoài sự cô đơn thông thường của nhân thế, bởi cái tôi nơi đây đã tự chẻ đôi chẻ ba ra, để tự lũy thừa mình, tạo một cuộc sống tâm linh mới lạ rất đơn đau và ngoạn mục mà dường như chỉ Nguyễn Bính nắm bắt được nghệ thuật biệt cách ấy : nghệ thuật tạo sầu Nguyễn Bính. Nghệ thuật tạo sầu của nhà thơ dựa trên tính chất bạc mệnh, yểu số của những giấc mơ, không chỉ nằm trong những bài thơ có chủ đề trực tiếp như Viếng hồn trinh nữ, Dòng dư lệ... mà còn bàng bạc ở cả những bài thơ vui như Cô hái mơ:

Thơ thẩn đường chiều một khách thơ

Say nhìn xa rặng núi xanh lơ

Khí trời lặng lẽ và trong trẻo

Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ

Hỡi cô con gái hái mơ già

Cô chửa về ư? Đường còn xa

Mà ánh trời hôm dần một tắt

Hay cô ở lại về cùng ta?

Nhà ta ở dưới gốc cây dương

Cách động Hương Sơn nửa dặm đường

Có suối nước trong tuôn róc rách

Có hoa bên suối ngát đưa hương

Cô hái mơ ơi!

Chẳng trả lời nhau lấy một lời

Cứ  lặng rồi đi, rồi khuất bóng

Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi  (Cô hái mơ)

Cả bài thơ là một giấc mơ, từ “ta” đến cô hái mơ, đến rừng mơ... may ra chỉ hai chữ Hương Sơn là thật. Một giấc mơ khi lên chơi động Hương Sơn. Cô hái mơ là một trong những bài thơ đầu tiên của Nguyễn Bính. Phạm Duy khi chọn bài thơ để phổ nhạc bài ca đầu tiên của đời mình đã có con mắt tinh đời : người nhạc sĩ trẻ tuổi ấy đã nhìn thấy ở Cô hái mơ, không chỉ là một thực thể hữu hình, mà nàng còn là hiện thân của giấc mơ, hiện thân của sự sáng tạo, Cô hái mơ khai phóng những giấc mơ bạc mệnh của thi nhân, của nghệ sĩ.

Hết rủ rê lơi lả “hay cô ở lại về cùng ta”, lại đến tiếng gọi khẩn khoản tha thiết: “Cô hái mơ ơi!”, nàng cũng chẳng thèm trả lời, nàng “cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng”, một cách rất liêu trai, huyền mộng, bởi tất cả chỉ là cuộc độc thoại của nhà thơ với chính mình. Trong rừng mơ có ai đâu, ngoài kẻ có khả năng chẻ mình làm hai để thoát khỏi cô đơn, để tạo thêm một đời sống nội tâm khác, ngoài mình, lũy thừa một mơ thành rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi !

Nghệ thuật tạo sầu của Nguyễn Bính phát xuất từ khả năng luỹ thừa  vô cùng biến ảo và liêu trai ấy, từ cách vạn hoá tâm hồn ấy, Nguyễn Bính có những câu thơ tuyệt vời :

Hồn anh như hoa cỏ may.

Một chiều cả gió bám đầy áo em (Hoa cỏ may)

Hoặc ngược lại, nhà thơ có thể hội tụ vạn tâm hồn trong một :

Cả kinh thành có những ai ?

Cả kinh thành có một người mắt nhung (Mắt nhung)

Nguyễn Bính dường như đã nắm trọn bí quyết làm xiêu đổ lòng người qua nghệ thuật phân kỳ và hội tụ cảm xúc và tâm linh.

*

Cô hàng xóm, đối với chúng ta, là hình ảnh gần gụi, thân quen. Nguyễn Bính có cô hàng xóm ấy thân quen ấy trong bài Xuân về :

Bên hiên hàng xóm, cô hàng xóm

Ngước mắt nhìn trời, đôi mắt trong

Nhưng nhà thơ còn có Người hàng xóm, một đối tượng khác. Rất khác. Bởi người khác cô. Người là người lạ, không quen. Ở cái quan hệ không quen không biết gì về nhau ấy, Nguyễn Bính đã viết nên bài thơ, có lẽ là một trong những bài thơ tình đẹp nhất của thế hệ ông. Đây là một bài thơ liên hoàn, không thể đọc câu trên mà không đọc tiếp câu dưới, lời lẽ hoàn toàn là ngôn ngữ hàng ngày nhưng keo sơn gắn bó với nhau như một hơi nhạc, một âm giai ngũ cung bám vào hồn người Việt:   

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi

Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn

Hai người sống giữa cô đơn

Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi

Giá đừng có dậu mùng tơi

Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng

Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng

Có con bướm trắng thường sang bên này ...

Bướm ơi, bướm hãy vào đây

Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi

Chả bao giờ thấy nàng cười

Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên

Mắt nàng đăm đắm trông lên

Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi

Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi

Tôi buồn tự hỏi : hay tôi yêu nàng ?

Không, từ ân ái nhỡ nhàng.

Tình tôi than lạnh tro tàn làm sao !

Tơ hong nàng chả cất vào

Con bươm bướm trắng hôm nào cũng sang.

Mấy hôm nay chẳng thấy nàng

Giá tôi cũng có tơ vàng mà hong

Cái gì như thể nhớ mong?

Nhớ nàng ? Không, quyết là không nhớ nàng !

Vâng, từ ân ái nhỡ nhàng

Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xưa

Tầm tầm giời cứ đổ mưa

Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm !

Cô đơn buồn lại thêm buồn

Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi ?

Hôm nay mưa đã tạnh rồi

Tơ không hong nữa, bướm lười không sang

Bên hiên vẫn vắng bóng nàng

Rưng rưng tôi gục xuống bàn... rưng rưng...

Nhớ con bướm trắng lạ lùng

Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng

Hỡi ơi bướm trắng tơ vàng

Mau về mà chịu tang nàng đi thôi

Đêm qua nàng đã chết rồi

Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng

Hồn trinh còn ở trần gian

Nhập vào bướm trắng mà sang bên này

Bài thơ gói trọn tâm hồn và phong cách Nguyễn Bính : lung linh giữa mơ và thực. Người  hàng xóm, nàng là mẫu người mệnh yểu, nàng có thật hay chỉ là giấc mơ nghệ sĩ, là sự chẻ đôi của tâm hồn? Là độc thoại của tình yêu, nàng là thơ thoại : nàng mang không gian và thời  gian Nguyễn Bính, phản ảnh những cuộc tình chết yểu, những cuộc tình chưa ngỏ, chưa dám ngỏ, những cuộc tình bướm trắng trong mơ, những bất hạnh khổ đau trên con đường tìm hạnh phúc. Nàng giao liên giữa sự sống và cái chết trong nỗi hoá kiếp Trang Chu, nàng là mối hoài nghi : nhớ thương-thương nhớ ? Nàng là sự phủ định lòng mình, là sự nói dối thành thật và thiêng liêng nhất của con người trước tình yêu và cái chết.