publicite publicite
Tìm kiếm

/ languages

Choisir langue
 
Annonce Goooogle
Annonce Goooogle

KINH TẾ

Tổng kết khủng hoảng tài chính thế giới 2008

 Thanh Hà

Bài đăng ngày 30/12/2008 Cập nhật lần cuối ngày 30/12/2008 13:11 TU

Trong lĩnh vực kinh tế, sự kiện được nhắc đến nhiều nhất trong năm, hay nói chính xác hơn là ở vào nửa cuối 2008, là cuộc khủng hoảng tài chính khởi động từ nước Mỹ và đã lan sang đến khắp cả thế giới. Cuộc khủng hoảng này đã kéo kinh tế toàn cầu đi xuống

Khởi động từ nước Mỹ và đã lan sang đến khắp cả thế giới, cuộc khủng hoảng tài chính đã kéo nền kinh tế toàn cầu đi xuống. Sức công phá của cơn bão tài chính lần này đối với các khu vực dịch vụ, sản xuất công nghiệp của thế giới ra sao ?

Đâu là những nguyên nhân đánh sập những định chế tài chính hàng đầu thế giới như các ngân hàng lớn của Hoa Kỳ, Lehman Brothers, Bear Sterne ? Tại sao các nền kinh tế giàu có của thế giới đã tung ra hàng ngàn tỷ đô la để cứu nguy tài chính, chấn chỉnh kinh tế mà chưa một chuyên gia nào dám khẳng định là thời kỳ khó khăn nhất đã ở sau lưng chúng ta ?

Thay đổi đột ngột của toàn cảnh kinh tế

Trong sáu tháng đầu năm, cả thế giới xôn xao trước hiện tượng vật giá leo thang : từ giá năng lượng, đến nông phẩm đều tăng ở một nhịp độ chóng mặt. Tính từ tháng 5/2007 đến khỏang tháng 3/2008 giá dầu thô tăng lên gấp ba. Trong cùng thời ky, tại một số nơi, lương thực, thực phẩm gần như trở thành những mặt hàng xa xỉ. Những quốc gia sản xuất và xuất khẩu năng lượng, như Nga, Venezuela, Niger, Algerie hay các tiểu Vương quốc vùng Vịnh phấn khởi khi thấy thu nhập nhà nước tăng nhanh cùng với sự leo thang của giá dầu hỏa  hay khí đốt. Ngân sách của nhà nước « nở to » thêm,  nhờ vậy mà một số các chương trình xây dựng hạ tầng cơ sở, các kế họach đầu tư công cộng ra đời.

Một số nguyên liệu như sắt thép hay đồng chì … không đủ để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của quốc tế, chủ yếu là hai nước đang phát triển ở châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ.

Cho đến cuối mùa Xuân quan tâm hàng đầu của chính phủ Pháp chẳng hạn là làm thế nào để kềm hãm lạm phát, đồng thời nâng cao sức mua của người dân trong bối cảnh đời sống ngày càng thêm đắt đỏ. Thế nhưng ngay sau tháng hè, ngành tài chính thế giới liên tục nhận được những gáo nước lạnh với sự kiện các thành trì kiên cố ở ngay trung tâm tài chính Wall Street thi nhau suy sụp : Bear Stearns, Lehman Brothers, Merill Lynch hay hãng bảo hiểm AIG, Morgan Staley điêu đứng. Dư luận thực sự bất ngờ trước điều mà báo chí gọi là sự « đổ dàn » của nền tài chính Hoa Kỳ.

Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng ?  

Theo đánh giá của kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa phải đi ngược trở về hồi năm 2001 để tìm hiểu về nguyên nhân dẫn đến khủng hỏang ngày hôm nay : 2001 là năm mà kinh tế Hoa Kỳ bị suy thoái sau khi bị « vỡ bong bóng tin học », thêm vào đó là lọat khủng bố 11 tháng 9. Nước Mỹ sau đó lao vào cuộc chiến chống khủng bố Afghanistan và nhất là đã ráo riết chuẩn bị tấn công Irak. Khi đó ngân hàng trung ương hạ lãi suất để kích cầu.

Chính quyền khuyến khích dân chúng tiêu thụ để tránh rơi vào suy thoái. Từ 2003 đến 2005, ngân hàng trung ương giảm lãi suất chỉ đạo từ 6% xuống còn 1%. Kết quả là  với lãi suất quá thấp, đầu tư và tiêu thụ trở nên quá dễ dàng. Thị trường tài chính của Mỹ tăng nhanh trở lại và tạo nên « quả bóng địa ốc ».

Trong suổt 7 năm qua, thị trường tài chính Hoa Kỳ vẫn được coi là nơi kiếm tiền an toàn nhất. Cho nên tất cả các nước có tài sản đều mua trái phiếu của Mỹ.  Trong số này có cả các nước Đông Nam Á vừa thoát khỏi khủng hoảng tài chính 1997. Trung Quốc cũng bỏ trên 400 tỷ để tham gia vào vốn Fanny Mae

Khi mà thấy « tiền rẻ », ngoại tệ ở nơi khác tiếp tục đổ về, các tổ hợp đầu tư tài chính của Mỹ phát huy nhiều sáng kiến : thứ nhất họ mang vốn ra đầu tư, thay vì chỉ làm nghiệp vụ trung gian ; thứ hai, là đi vay thêm ở bên ngoài để đầu tư thêm với tỷ số nợ gấp mấy chục lần vốn có thực trong tay ; thứ ba là chia các khoản nợ nói trên thành từng gói. Những sản phẩm này được gọi là biến phiếu hay derivative.

Cũng các công ty này dùng những gói nợ để coi đấy là tài sản để có thể vay thêm. Tiến trình nói trên được gọi là chứng phiếu hóa hay titritisation. Tiến trình ấy, tự nó không sai nhưng do tiền rẻ cho nên các công ty mua lại những gói nợ  đã thẩm định sai mức độ rủi ro.

Khi nào mà tình hình tốt đẹp, giá cổ phiếu cứ tăng lên thì các nhân viên môi giới lại còn được tiền thưởng. Tình trạng này kéo dài từ 2002 đến 2006. Khi  tiền rẻ, tức là lãi suất rất thấp, dân chúng được khuyến khích tiêu thụ, họ dễ được cấp tín dụng. Mọi người đã phấn khởi vay tiền để tậu nhà. Hiện tượng này dẫn đến khủng hoảng tín dụng địa ốc subprime. Một số ngân hàng bán công trong ngành địa ốc mạnh dạn cho vay để kiếm lời, như là trường hợp của hai ngân hàng bán công Fanny Mae, Fraddie Mac.

Một cách chính xác, khủng hoảng tài chính mỹ bắt đầu từ khi nào ?

Có thể nói là khoảng giữa 2006 khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất đề phòng lạm phát. Tiền hết rẻ, bong bóng đầu tư, đầu cơ địa ốc bị xì : bong bóng địa ốc, bong bóng tín dụng gia cư subprime bị vỡ vì nhiều người vay tiền quá khả năng ; trả tiền nợ nhà không nổi, nhà bị tịch biên. Khi đó mọi người mới khám phá ra rằng, trong những gói nợ đang lưu hành, có nhiều khoản « nợ xấu ». Nhưng Xấu đến cỡ nào thì không ai biết.

Hồi tháng 7 /2008 nhiều ngân hàng châu Âu bát đầu bị điêu đứng vì mua lầm nợ xấu của Mỹ, nhưng bản thân Hoa Kỳ thì vẫn « bình chân như vại »cho đến khi số khách hàng bị vỡ nợ, số nhà bị tịch biên tăng quá lớn. Các công ty tài trợ hết dám cho vay : nước Mỹ rơi vào cảnh cạn kiệt tín dụng, trong khi kinh tế có dấu hiệu bị suy thoái. Ngân hàng trung ương vội vàng hạ lãi suất nhưng đã quá trễ. Các ngân hàng trung ương khác - Châu Âu và Nhật Bản - vội vàng bơm thêm tiền vào ngần hàng nhưng vòi tín dụng vẫn bị nghẹt. Cổ phiếu các công ty tài chính tuột giá.

Tuần lễ 15 đến 21 tháng 9 cả thế giới chao đảo : từ Wall Street đến Tokyo, Thượng Hải các chỉ số chứng khoán đều tuột dốc mạnh. Tại Châu Âu : Paris, Luân Đôn, Franfurt hay Amsterdam cùng chung số phận. Thị trường Matxcơva cũng lâm vào tình trạng hoảng loạn đến nỗi phải tạm đóng cửa để chờ cho cơn bão đi qua.

Tính từ đầu tháng 9 đến nay, trị giá chỉ số Nikkei của Nhật mất giá đến một phần ba. Chỉ số Hang seng của Hongkong là một phần tư. Bởi lý do đơn giản là các gói nợ xấu của Mỹ đã làm ung thối ngành tài chính ngân hàng tại rất nhiều quốc gia, đứng đầu là Anh Quốc với cả khu vực tài chính Luân Đôn, City.  

Chính vì vậy mà sau Hoa Kỳ, Anh quốc là nước thứ nhì công bố một kế hoạch quy mô cứu nguy ngành ngân hàng : rót thêm 37 tỷ bảng Anh vào ba ngân hàng đang bị kiệt quệ nhất.

Mặt khác thì cho dù Anh, Mỹ, Liên Hiệp Châu Âu bơm rất nhiều tiền vào hệ thống tài chính quốc tế, nhưng vẫn không đủ để đảo ngược tình thế hay ngăn chặn khủng hoảng này lan sang khu vực sản xuất, dịch vụ … bằng chứng cụ thể là chứng khoán toàn cầu vẫn còn trồi sụt thất thường.

Căn cứ trên trường hợp của Anh Quốc, giáo sư Mai Kim Đỉnh tại Luân Đôn cho rằng, các khoản cứu giúp nói trên không thấm vào đâu với số nợ thực sự của các ngân hàng đã mua nhầm nợ xấu.

Từ tài chính đến các họat động kinh tế

Điều khó tránh khỏi là sự sụp đổ của ngành tài chính trên thế giới đã kéo theo nền kinh tế thực xuống vực thẳm. Ba cột trụ chính của thế giới, Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản trong hai quý cuối năm liên tục đưa ra những chỉ số bi quan : thất nghiệp gia tăng, nhu cầu tiêu thụ từ Âu sang Á đều bị chựng lại, sản xuất công nghiệp, xuất khẩu đều đi xuống.

Chỉ số tin tưởng của các doanh nhân rơi xuống đến những mức thấp kỷ lục, đầu tư trong bối cảnh như vậy không thể khởi sắc. Theo dự báo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển, sẽ có thêm từ 20 đến 25 triệu người thất nghiệp trong hai năm sắp tới. Các quốc gia sản xuất dầu hỏa cũng tiêu điều : giá dầu xuống dưới ngưỡng 35 đô la một thùng mà khách hàng thì vẫn dửng dưng.

Đơn giản do guồng máy sản xuất của thế giới đã chạy chậm hẳn lại. Ngành công nghiệp xe hơi thế giới làm ăn thua lỗ, Big Tree là GM, Ford và Chrysler của Hoa Kỳ đứng bên bờ vực thẳm, phải ngửa tay xin tiền của Quốc hội. Toyota lần đầu tiên từ khi được hình thành bị thua lỗ. Hai hãng xe của Pháp là Reunault và  PSA Peugeot Citroen thì phải tạm cho nhân viên nghỉ việc trong nhiều tuần lễ vì « lý do kỹ thuật ». Ngoài ngành công nghiệp xe hơi, ngành xây dựng cũng ủ rũ không kém.

Tại châu Á, Nhật Bản, Hàn Quốc Trung Quốc đã liên tục tung ra nhiều kế họach kích cầu quy mô chưa từng thấy. Nhưng trước mắt chưa một cơ quan dự báo kinh tế nào lạc quan.

Những từ ngữ được lập đi lập lại trên các phương tiện truyền thông vào những ngày cuối năm vẫn là «khủng hoảng », « đình đốn » hay nguy cơ « giảm phát » và cũng chưa thấy một chuyên gia nào tiên đoán là nền kinh tế toàn cầu khởi sắc trở lại trước cuối năm 2009.

Điểm không vui khác là thị trường lao động thế giới tiếp tục xấu đi, ít nhất là trong sáu tháng đầu năm. Ở Hoa Kỳ, thì đây thực sự là mối đau đầu, một thách thức lớn đối với chính quyền sắp chính thức bắt tay vào việc của tổng thống tân cử Obama. Ở châu Á, giải quyết thất nghiệp đang trở thành ưu tiên hàng đầu của chính quyền Bắc Kinh, vì đây là yếu tố quyết định cho sự ổn định xã hội ở nước đông dân nhất địa cầu.  

Cho đến giờ, giới quan sát đưa ra kết luận là tài chính toàn cầu phải được kiểm soát chặt chẽ hơn, chính sách tài chính của thế giới không còn là độc quyền của một câu lạc bộ khép kín của những cường quốc công nghiệp phát triển nhất hành tinh, mà phải được mở rộng đến những nước ngày càng có trọng lượng lớn trên nền kinh tế của toàn cầu, trong số này phải kể đến Trung Quốc, Brazil ...

Riêng đối với các nước nhỏ đang phát triển đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á thì sao, khi mà các quốc gia nhỏ không có khả năng làm thay đổi cục diện kinh tế toàn cầu ? Giáo sư Trần Nam Bình, đại học New South Wales đề nghị :

“Những nước nhỏ cũng không thể chỉ trông chờ vào xuất khẩu và coi đây là một yếu tố tăng trưởng lâu dài. Những nước này phải dần dần chuyển đổi để đẩy mạnh tiêu thụ nội địa, chuyển đổi từ sản xuất để xuất khẩu qua các dịch vụ … Bài học chính chúng ta có thể rút ra được là : một nền kinh tế uyển chuyển, linh động có nhiều khả năng cạnh tranh vẫn là mô hình tối ưu trong mọi tình huống”